Màu nước ao cá là tấm gương phản ánh loại tảo đang sống trong ao và lượng chất hữu cơ dưới đáy. Nước xanh nõn chuối hay xanh vỏ đậu là nước tốt. Xanh quá đậm là tảo nhiều, dễ thiếu oxy về đêm. Váng xanh như gỉ đồng trên mặt ao cần cảnh giác. Nước trong veo thường là nghèo dinh dưỡng hoặc bị phèn, còn nước đen có mùi hôi là đáy ao đang ô nhiễm.
Chào bạn, đây là Nhà Chăn Nuôi. Người nuôi cá lâu năm chỉ cần đứng trên bờ nhìn màu nước là đoán được ao đang khoẻ hay yếu. Tập này mình kể từng màu nước hay gặp, nghĩa của nó, và những việc nên làm khi màu nước thay đổi.
Vì sao nước ao có màu?
Màu xanh của nước ao chủ yếu đến từ tảo, những sinh vật rất nhỏ trôi lơ lửng. Tảo cần ánh sáng và chất dinh dưỡng từ phân, thức ăn thừa. Ao càng màu mỡ, tảo càng nhiều, nước càng xanh.
Mỗi nhóm tảo cho một sắc màu riêng. Tảo lục cho màu xanh lá tươi, có nhóm tảo cho màu nâu vàng, có nhóm cho màu xanh lam. Khi một nhóm phát triển mạnh hơn, màu nước nghiêng về phía nhóm đó.
Ngoài tảo, phù sa, bùn đất, chất hữu cơ hoà tan, sắt trong đất phèn cũng góp phần tạo màu. Vì thế đọc màu nước cần kết hợp với hiểu biết về ao và thời tiết gần đây.
Tảo là bạn khi ở mức vừa phải: tạo oxy ban ngày, là thức ăn cho cá mè và động vật nhỏ, che bớt nắng xuống đáy. Tảo là thù khi quá nhiều: ban đêm ăn hết oxy, khi tàn thì xác phân huỷ làm ao ô nhiễm.
Xanh nõn chuối, xanh đậm và váng xanh lam
Nước xanh nõn chuối, xanh vỏ đậu, trong vừa phải là màu người nuôi mong muốn. Tảo đủ để nuôi ao mà chưa thừa. Ao giữ được màu này ổn định là ao đang khoẻ.
Khi nước chuyển sang xanh đậm, sánh, mặt nước như có lớp sơn, đó là tảo đã quá nhiều. Ban ngày thì ổn, nhưng nửa đêm về sáng dễ thiếu oxy. Lúc này bạn giảm bón phân, giảm cho ăn, thay bớt nước mới và chạy quạt nước ban đêm.
Nếu trên mặt ao xuất hiện váng xanh như gỉ đồng hay như sơn xanh lam, dồn về góc gió, có mùi tanh hắc, thường là dấu hiệu một nhóm tảo lam phát triển mạnh. Một số loại tảo lam có thể sinh độc tố, làm nước có mùi, làm cá kém ăn, và khi chúng tàn hàng loạt thì rất dễ thiếu oxy.
Gặp váng xanh lam, bạn nên vớt bớt váng, thay nước, giảm dinh dưỡng đổ vào ao, và hỏi cán bộ thuỷ sản. Đừng để gia súc uống nước ao có váng dày, và người cũng tránh tiếp xúc nhiều.
Nước đục bùn, nước trong veo và nước phèn
Nước đục màu nâu đất, thường sau mưa lớn hay khi bờ ao sạt lở, là do phù sa và bùn lơ lửng. Bùn che ánh sáng nên tảo khó phát triển, ao ít oxy hơn ban ngày. Cá ăn kém trong nước quá đục.
Muốn nước trong lại, bạn sửa bờ, làm rãnh để nước mưa không tràn thẳng từ ruộng vào ao, trồng cỏ giữ đất trên bờ. Một số cách làm lắng bùn có thể hỏi khuyến nông.
Nước trong veo nhìn thấy tận đáy không hẳn là nước tốt. Có thể ao đang nghèo dinh dưỡng, tảo ít, cá thiếu thức ăn tự nhiên. Khi đó cần gây màu lại bằng cách bón phân hợp lý.
Ở vùng đất phèn, nước trong veo kèm vị chua, đáy và bờ có màu vàng đỏ như gỉ sắt, cây cỏ ven bờ úa, thì đó là nước phèn. Tảo không phát triển được trong nước quá chua. Ao phèn cần bón vôi và có cách quản lý riêng theo hướng dẫn khuyến nông.
Nước nâu đen, mùi hôi và đổi màu đột ngột
Nước có màu nâu đen, sẫm, mùi hôi thối, nổi bọt lâu tan là dấu hiệu chất hữu cơ tích tụ quá nhiều, đáy ao đang ô nhiễm. Thường gặp ở ao lâu năm không vét bùn, cho ăn dư thừa nhiều.
Khi khuấy nhẹ đáy ao mà có bọt khí nổi lên mùi trứng thối, đáy đang sinh khí độc. Cá ở ao này dễ bệnh, chậm lớn, hay nổi đầu.
Đáng lo nhất là khi màu nước đổi đột ngột trong một hai ngày, ví dụ từ xanh đậm sang vàng nâu hay trong hẳn, kèm váng và mùi. Đó thường là tảo tàn hàng loạt. Đây là lúc ao dễ thiếu oxy nghiêm trọng, bạn cần chạy quạt nước, thêm nước mới, ngừng cho ăn.
Về lâu dài, ao nước đen cần được cải tạo khi kết thúc vụ: tháo cạn, vét bùn, bón vôi, phơi đáy như những bước chuẩn bị ao.
Đo độ trong bằng tay và ghi lại mỗi ngày
Người nuôi có một cách đo đơn giản: thò cánh tay xuống nước, xem đến độ sâu nào thì không còn nhìn thấy lòng bàn tay. Nếu ngập tới gần khuỷu tay mà vẫn thấy lờ mờ bàn tay, nước có độ màu vừa phải. Nếu mới ngập cổ tay đã không thấy, nước quá đậm. Nếu ngập cả cánh tay vẫn thấy rõ, nước quá trong.
Có cách chính xác hơn là dùng một cái đĩa trắng buộc vào que có vạch, thả xuống nước đến khi không còn thấy đĩa. Khuyến nông có thể hướng dẫn bạn mức phù hợp cho từng loài cá.
Hãy đo vào cùng một giờ mỗi ngày, thường là giữa buổi sáng khi nắng đã lên. Ghi lại màu nước, độ trong, thời tiết, lượng thức ăn. Sau một vụ, cuốn sổ ấy cho bạn thấy ao mình phản ứng thế nào với mưa nắng và cách cho ăn.
Nhìn màu nước là kỹ năng, không ai giỏi ngay từ đầu. Sáng mai bạn thử múc một chai nước ao, soi lên trời, rồi thò tay xuống nước xem mình thấy bàn tay đến đâu.
Câu hỏi thường gặp
Nước ao màu xanh lá đậm có tốt không?
Xanh đậm quá thường là tảo phát triển quá mức. Ban ngày không sao nhưng ban đêm dễ thiếu oxy. Bạn nên giảm bón phân, giảm cho ăn, thay bớt nước và chạy quạt nước vào ban đêm.
Váng xanh trên mặt ao có độc không?
Một số loại tảo lam tạo váng xanh có thể sinh độc tố. Không phải váng nào cũng độc, nhưng nên cảnh giác. Vớt bớt váng, thay nước, hạn chế gia súc uống và hỏi cán bộ thuỷ sản.
Nước ao trong veo có nuôi cá được không?
Nuôi được nhưng cá thiếu thức ăn tự nhiên và tảo ít nên oxy ban ngày thấp hơn. Bạn kiểm tra xem có phải nước phèn không. Nếu không phải phèn, gây màu lại bằng bón phân hợp lý.
Vì sao nước ao đổi màu sau mưa?
Mưa làm nước loãng, đục do phù sa, làm tảo chết và các tầng nước đảo lộn. Vì vậy màu nước có thể thay đổi nhanh. Sau mưa, theo dõi ao kỹ và chạy quạt nếu có.
Có cần mua bộ thử nước cho ao cá không?
Với ao nhà quy mô nhỏ, quan sát màu nước và độ trong đã giúp được nhiều. Nếu nuôi dày hoặc ao hay có vấn đề, bộ thử đơn giản về độ pH và một số chỉ số giúp bạn hiểu ao rõ hơn. Khuyến nông có thể hướng dẫn cách dùng.